Âm nhạc là gì?


Âm nhạc được định nghĩa một cách hết sức đơn giản, chính là sự sắp đặt có nghệ thuật của các âm thanh. Âm nhạc là một phần không thể tách rời của tất cả các nền văn hoá trên thế giới và trong mỗi nền văn hoá đó, nó lại được biến đổi hết sức rõ rệt về phong cách và cấu trúc, tạo nên sự đa dạng đến tuyệt vời.

Nhiều người vẫn thường hỏi, liệu âm nhạc có thể tồn tại mà không cần đến âm thanh? Một số nhà triết học cho rằng, âm nhạc cần được định nghĩa là “hình ảnh tinh thần” (mental image) và khía cạnh “vật chất” của âm thanh (những gì chúng ta nghe được) chỉ là sản phẩm phụ của các hình ảnh tinh thần mà thôi. Đến đây, chúng ta lại cần tìm hiểu đôi chút về âm thanh. 4 tính chất cơ bản của âm thanh bao gồm: cao độ (trầm, trung, cao), cường độ (mạnh, trung, nhẹ), trường độ (ngắn, dài) và âm sắc – tức là màu của âm thanh, giúp người nghe phân biệt được sự khác nhau của các loại nhạc cụ, giọng nói, tiếng động…

Khi âm nhạc bắt đầu

Các nhà nghiên cứu cho đến nay vẫn không thể xác định được âm nhạc có từ bao giờ và nền văn hoá nào biết đến âm nhạc sớm nhất. ở phương Tây, khái niệm âm nhạc lần đầu được nhắc đến có lẽ vào khoảng thế kỷ thứ 6 (trước Công nguyên), bởi nhà hiền triết kiêm toán học tài ba người Hy Lạp Pythagoras – mô tả những âm thanh hoàn hảo, chuẩn mực nhất, không bao giờ nghe được ở cõi tục và nó bắt nguồn từ sự chuyển động của những vì tinh tú. Các nền văn hoá cổ đại ngoài phương Tây cũng cho rằng âm nhạc là phần quan trọng thuộc về vũ trụ học, triết học hay một cái gì đó thật cao siêu mà con người chưa thể vươn tới. Ví dụ, thang âm trong âm nhạc Trung Hoa lúc trước phản ánh rất rõ ràng khái niệm của họ về sự sắp xếp vũ trụ. Mỗi bậc trong thang âm đều rất gần gũi với các hướng cơ bản (Đông, Tây, Nam, Bắc), ngũ hành, các mùa, các tháng trong năm, màu sắc, các con số, các bộ phận trên cơ thể người… Người Trung Quốc cũng tìm ra trong tự nhiên có 8 nguồn âm thanh khác nhau thuộc âm nhạc: kim loại, đá, lụa, tre, quả bầu, sành sứ, da và gỗ. Trong văn hoá cổ ấn Độ cũng có những giai điệu hết sức phức tạp gọi là ragas, được tin là có sức mạnh huyền bí, được chơi vào những giờ đặc biệt, trong những mùa đặc biệt. Nếu sai thời gian quy định sẽ gây hại rất nặng nề cho cả nhạc công và khán giả. Trong bất kỳ tôn giáo nào, âm nhạc cũng giữ một vai trò hết sức quan trọng, điển hình là Thiên chúa giáo và Do Thái giáo.

Để lưu giữ và diễn tả âm nhạc, ký âm luật ra đời. 7 nốt cơ bản từ thấp tới cao được ký âm là C, D, E, F, G, A, B (do, re, mi, fa, sol, la, si). 7 nốt cơ bản này có thể thăng (#) hoặc giáng (b), nên tính tổng cộng có tới 12 nốt nhạc. Những nốt nhạc này cũng như các chữ cái, ghép lại thành từ, nhiều từ thành câu, nhiều câu thành đoạn. Nhạc cụ và giọng hát là những thành phần cơ bản nhất để người biểu diễn mang âm nhạc đến cho người thưởng thức.

Nhạc cụ được chia ra là 3 bộ cơ bản, bao gồm:

Bộ gõ

Không còn nghi ngờ gì nữa, nhạc cụ gõ là loại nhạc cụ cổ xưa nhất trên thế giới và tên gọi của nhóm nhạc cụ này xuất phát từ phương thức phát ra âm thanh của chúng: gõ vào những mặt da được căng lên hoặc gõ vào miếng kim loại hay miếng gỗ. Các nhạc cụ thuộc bộ gõ bao gồm trống, chuông, xylophone, cymbal, tamtam, triangle (tam giác thanh), chiêng và piano.

Bộ hơi

Các nhạc cụ thuộc bộ hơi được chia ra làm 2, là nhóm gỗ và nhóm đồng. Sở dĩ có tên gọi như vậy là do chất liệu chế tạo nên các nhạc cụ đó. Âm thanh thuộc bộ hơi được “chế tạo” theo những cách khác nhau, với nhóm đồng, đôi môi của người nhạc công tạo nên sự rung động còn với nhóm gỗ, sự rung động bắt nguồn từ một cột không khí chạy trong lòng ống (sáo, oboe, còi…) để tạo ra âm thanh. Nhạc cụ thuộc bộ hơi bao gồm saxophone, clarinet, oboe, sáo, basson, trombone, trumpet, tuba, cor…

Bộ dây

Các nhạc cụ thuộc bộ dây được chia ra làm 3 phân nhánh. Phân nhánh thứ nhất bao gồm những loại đàn dây có thân mỏng, như đàn koto của Nhật Bản, đàn tam thập lục, dulcimer. Thứ hai là các loại đàn có cổ như guitar, violin, đàn sitar của ấn Độ, đàn lyre… Thứ 3 là loại đàn có nhiều dây, mỗi dây thể hiện một nốt nhạc, như đàn lia (lyre – của người Hy Lạp, La Mã cổ đại), đàn hạc (harp)…

 Nền văn hoá âm nhạc

 Nghệ sĩ jazz vĩ đại của nước Mỹ, Duke Ellington có lần đã tuyên bố, âm nhạc chỉ tồn tại hai thể loại: tốt và xấu. Âm nhạc chân chính nên dành cho các thính giả trung thành, những người biết phân biệt các sắc thái trong phong cách và thậm chí có thể nhận biết được nghệ sĩ yêu thích của mình chỉ qua một vài âm thanh hơn là đám đông xô bồ kia – với những kiến thức về âm nhạc rất hạn hẹp và luôn cho rằng mọi âm thanh đều na ná như nhau. Âm nhạc có thể được trình tấu hay, hấp dẫn, giàu sắc thái biểu cảm hoặc nghèo nàn, nhạt nhẽo. Sự phán quyết cuối cùng được đưa ra trong khuôn khổ nền văn hoá âm nhạc, theo những gì mà nền văn hoá đó tin tưởng vào âm nhạc. Rõ ràng là các nghệ sĩ sáng tác và biểu diễn giữ vai trò rất quan trọng trong vấn đề giao tiếp âm nhạc, nhưng sự hiểu biết và kiến thức về âm nhạc của thính giả đôi khi còn chưa được đánh giá đúng mức hoặc bị bỏ qua.

 Có thể chia thính giả ra làm 3 loại. Những người thích phần âm điệu sẽ chủ yếu nghe nhạc cổ điển, trữ tình. Những người mê tiết điệu sẽ nghe những thứ nhạc hơi có chất kích động như hip-hop, dance, funk, pop… Loại thứ 3 thích cả tiết điệu và âm điệu, dĩ nhiên ít hơn và chủ yếu là những người chơi nhạc. Vấn đề thích loại nọ hay loại kia một phần do bẩm sinh, phần còn lại do ảnh hưởng từ môi trường sống (gia đình, bạn bè, xã hội…). Người thích được nhiều loại nhạc hẳn phải có tâm hồn phong phú và thường vô lo vô lự. Đó thực sự là người sung sướng vì có thể hưởng thụ được nhiều cảm giác khác nhau.

 Hầu như mọi nền văn hoá âm nhạc đều có 2 dòng riêng biệt: âm nhạc nghệ thuật (art music) và nhạc dành cho công chúng (popolar music), tuy nhiên, đôi khi, ranh giới giữa 2 dòng này cũng không thật rõ ràng. Âm nhạc nghệ thuật đòi hỏi người nghệ sĩ sự khổ luyện nhiều hơn và ở đẳng cấp cao hơn, đồng thời người nghe cũng phải có trình độ thưởng thức tinh vi, sành sỏi hơn. Nhạc đại chúng thì dĩ nhiên là dễ nghe và dễ hiểu đối với tất cả mọi người. Nói như vậy cũng không có nghĩa là người thích nghe nhạc nghệ thuật có quyền chê nhạc đại chúng là dở. Mỗi thể loại nhạc đều có giá trị riêng, chỉ có điều người nghe thích hay không thích mà thôi. Jazz vốn được xếp vào dòng popular nhưng tất cả dân nghe cổ điển dù không thích jazz nhưng cũng không ai dám chê bai gì. Bởi jazz cũng là thứ nhạc khó nghe và từng được coi là nhạc dành riêng cho nhạc sĩ (music for musical). Rock cũng thuộc dòng popular nhưng lại khá gần gũi với cổ điển bởi cả hai dòng nhạc này đều có thể diễn tả sự cuồng loạn của con người đến mức tột cùng.

 Mỗi nền văn hoá âm nhạc lại có những vùng tiểu văn hoá trong đó và có thể mỗi vùng tiểu văn hoá còn bị chia nhỏ nữa. Âm nhạc phương Tây là ví dụ điển hình nhất của sự phân chia này. Baroque, nhạc cổ điển, trữ tình, hiện đại và hậu hiện đại được coi là những dòng nhạc cơ bản nhất của âm nhạc nghệ thuật phương Tây trong hơn 3 thế kỷ qua. Nhưng bên cạnh đó vẫn tồn tại những dòng nhạc khác, như nhạc tôn giáo, dân ca, nhạc phổ thông, nhạc phim, nhạc kịch… Mỗi dòng nhạc được coi là một vùng tiểu văn hoá. Trong các vùng tiểu văn hoá đó, chúng ta lại thấy những sự phân chia khác. Ví dụ, trong nhạc đại chúng, ta thấy nhạc rock. Trong rock lại có classic rock, heavy metal, progressive rock, glam rock… Cùng là progressive rock nhưng Pink Floyd và Jethro Tull mỗi nhóm chơi một phong cách riêng, một đằng hơi thiên về hoà tấu, mang hơi hướng ấn tượng của Debussy (Pink Floyd), một đằng lại gần gũi với dân ca, chất chứa nhiều ẩn ức tôn giáo (Jethro Tull). Sự phân chia này đã giải thích một cách dễ hiểu nhất cho chúng ta về tính đặc trưng của các ban nhóm, nghệ sĩ hàng đầu. Chỉ cần nghe qua một vài giai điệu, tiết tấu, người am hiểu và sành nhạc đã biết ngay của ai chơi rồi.

 Sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ cao mà chủ yếu là radio, truyền hình và internet đã làm thay đổi bộ mặt của âm nhạc thế giới trong thế kỷ 21. Bây giờ, việc ghi lại những âm thanh đặc trưng nhất của một nền văn hoá âm nhạc đã không còn là điều khó khăn, kể cả những thứ âm nhạc được dạy và lưu giữ theo lối truyền khẩu. Ranh giới giữa các nền văn hoá và các vùng tiểu văn hoá (âm nhạc) đang mờ dần, có những chỗ đã hoàn toàn biến mất. Nhiều dòng nhạc đang chết dần chết mòn vì tính phổ cập không cao và không hề có sức hấp dẫn số đông. Ngược lại, thêm nhiều dòng nhạc lại ra đời do sự giao thoa giữa các nền văn hoá khác nhau. Ví dụ như nhạc cine ở Nam ấn Độ, kết hợp giữa giai điệu cổ truyền bản xứ với các nhạc cụ điện tử phương Tây cùng phong cách jazz và rock. Nhạc truyền thống benga của Kenya và juju của Nigieria cũng có thêm guitar điện cho “gần gũi với thời đại”. Mới đây tại Việt Nam, nhạc sĩ Quốc Trung đã thử nghiệm rất thành công show diễn mang tên Đường xa vạn dặm – với sự kết hợp khá hài hoà giữa thập lục, nhị, đàn bầu, đàn đáy, sáo, tiêu, trống chèo, phách mõ của Việt Nam với dàn nhạc điện tử phương Tây. Toàn cầu hoá âm nhạc, đáng lo hay đáng cổ vũ, điều đó phụ thuộc rất nhiều vào thái độ, sở thích và cả trình độ của người chơi nhạc lẫn người nghe nhạc, bởi nếu đi đúng con đường, không những chúng ta lưu giữ được các giá trị truyền thống mà còn tiếp thu được rất nhiều cái hay, cái đẹp từ những nền văn hoá (âm nhạc) khác.

About these ads

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 32 other followers

%d bloggers like this: