Trần Ngọc Hưởng – đậm đà hương sắc miền châu thổ Cửu Long Giang


(Tác giả Lê Ngọc Trác)

Từ những năm đầu thập niên 60 của thế kỷ 20, tôi đã đọc được thơ của Trần Ngọc Hưởng trên các báo, tạp chí văn học của miền Nam. Thế rồi, mãi đến 50 năm sau, tôi mới có dịp đọc được nhiều thơ của Trần Ngọc Hưởng. Những bài thơ của một tâm hồn đôn hậu, đầy ắp tình cảm vẫn còn nguyên trinh sự yêu mến trong tôi như thưở ban đầu ngày xưa đã từng đọc thơ anh.

Phần lớn thơ của Trần Ngọc Hưởng viết về vùng trời, sông nước miền châu thổ Cửu Long Giang, tình đất tình người của các tỉnh miền Tây Nam Bộ như chiếc nôi đã tạo nguồn cảm hứng trong thơ cho Trần Ngọc Hưởng. Qua thơ Trần Ngọc Hưởng, chúng ta được sống với sông nước Cửu Long Giang mênh mông, những cánh đồng xanh ngát tận chân trời. Màu xanh mướt tóc dừa nghiêng trong gió, màu khói đốt đồng thơm mùi rơm rạ phù sa châu thổ trong thời điểm giao mùa của đất phương Nam:

“Ôi Cửu Long Giang chín miệng Rồng
Ra khơi táp sóng nhớ nguồn sông
Chảy luồn máu đất trong dòng nước
Sông nhả phù sa lấp Biển Đông

Chia nhánh Tiền Giang, nhánh Hậu Giang
Đôi dòng huyết mạch của Miền Nam
Máu tim cuộn chảy ơi trìu mến
Khói sóng hòa hơi thở xóm làng

Mỏi cánh cò bay thẳng cánh đồng
Cột chèo soi bóng thấu lòng sông
Lưới khuya chụp sóng từng con nước
Chở nặng xuồng khua nhịp lớn ròng

Tóc mướt dừa nghiêng dòng Cửa Tiểu
Nhà chòi khách đợi chuyến đò ngang
Bên sông Cửa Đại phà hơi sóng
Tao tác gà trưa gáy muộn màng

Trôi giạt Ba Lai sông nước cũ
Tối rồi về núi cánh chim bay
Lửa chài hiu hắt đêm thao thức
Qua cửa Hàm Luông mặt nước đầy

Khói bếp bay hoài trên mái lá
Cổ Chiên sóng bạc vỗ hồn ta
Tung cao diều giấy đùa trong gió
Cô gái Cung Hầu cất giọng ca

Bùn đen điểm trắng bông bần rụng
Mây cuốn buồm xuôi cửa Định An
Trời rộng Trần Đề in đáy nước
Bến nào tách nhẹ mái chèo sang

Mây cao cuồn cuộn bông gòn trắng
Ba Thắt luân lưu máu một dòng
Cuống rún khôn lìa lòng đất mẹ
Dạt dào huyết mạch chín dòng sông”.

(Huyết mạch miền Nam – Thơ Trần Ngọc Hưởng)

Thơ của Trần Ngọc Hưởng còn gợi cho chúng ta nhớ về một thửa “mở cõi” của tiền nhân:

“Áo vá quàng túi rỗng
Hồn thơm nuôi chí bền
Đánh cược với số phận
Tiếng độc huyền chênh vênh

Chẳng “sắc phong bảo kiểm”
Phu tướng cũng lên đàng…”
Tiếng độc huyền lưu lạc
Một khúc hành phương Nam

Lục bình trôi lãng đãng
Sông Hậu hay sông Tiền?
Tân An hay Mộc Hóa?
Mịt mờ chưa tuổi tên

Rưng rưng hồn lau sậy
Men rượu bạc chiều sương
Gõ nhịp xuồng ba lá
Tiếng độc huyền tha phương

Đất mới bao huyền thoại
Nước rong sóng vượt bờ
Đêm mộng nghìn lúa trổ
Hạt no tròn vàng mơ…

Rắn thành tinh khè lửa
Sấu thành tinh đội đèn
Vẹt muỗi mòng đĩa vắt…
Tiếng độc huyền vút lên…

Ai ôm đàn cầm phảng
Hiểm nguy sá chi hề
Máu mồ hôi thánh thót
Đất lạ đã thành quê

Mênh mang thời mở cõi
Ai “dạ cổ hoài lang”?
Tiếng độc huyền da diết
Một khúc tình phương Nam

Đêm nay xuôi Vàm Cỏ
Hồn giạt sóng bên trời
Tiếng độc huyền bứt rứt
Thương người xưa khôn nguôi…”

(Khúc tình phương Nam – Thơ Trần Ngọc Hưởng)

Bài thơ “Qua đò cầu Nổi”, Trần Ngọc Hưởng viết cách đây 40 năm vẫn còn “neo đậu” trong lòng những người yêu thơ. Bài thơ đẹp, mượt mà, thơ mộng, tràn đầy tình cảm. Phải chăng “chuyến đò cầu Nổi” là bến bờ hạnh phúc trong đời của nhà thơ chúng ta?:

“Ta qua Cầu Nổi năm năm trước
Gặp lại em trong một chuyến phà
Mưa bụi mù giăng tà áo tím
Nhớ thời trẻ dại đẹp như hoa

Nhớ trang vở cũ thương trường tỉnh
Thương tiếng chuông tan nhịp thước buồn
Thương buổi lìa đàn chim vỡ tổ
Một khung trời mộng chỉ còn hương

Thương bóng dù che phà tách bến
Dáng cô bạn nhỏ phút qua sông
Trong màu áo tím làn mưa bụi
Má ướt mà sao cứ ửng hồng

Sánh vai hai đứa cùng qua “bắc”
Gió thổi đôi bờ tóc rối bong
Thương quá mắt em đầy khói sóng
Neo hồn ta mãi giữa dòng trong

Năm xưa ngày đó ta là bạn
Đâu nghĩ ngày nay nên lứa đôi
Hai đứa nắm tay cùng xuống bến
Qua đò Cầu Nổi vợ hiền ơi!

Lòng ta nhớ mãi thương ngày đó
Áo tím bay hoài mưa bụi rơi
Đôi mảnh lòng son cùng sánh bước
Trăm năm trên một chuyến phà đời”

Trần Ngọc Hưởng viết những câu thơ về cha mẹ của anh, đọc xong chúng ta nghe lòng mình se thắt:

“…Ráng đỏ chiều hôm sâu lắng lại
Bảy mươi tuổi lẻ một đời cha
Lo toan nhiều nỗi riêng cơ cực
Từ tuổi thanh xuân đến tuổi già

Bông sậy đưa buồn phơ phất trắng
Cho con côi cút giữa quê mình
Bếp xưa soi mắt người yêu dấu
Cha chợt về trong đốm lửa xanh…”

(Trích bài thơ: Đốm lửa xanh Trần Ngọc Hưởng)

Bên cạnh nhiều bài thơ viết về miền Nam nơi anh đã sinh ra và lớn lên, Trần Ngọc Hưởng còn viết về những vùng đất mà anh đã từng đến, như: Phan Thiết, Huế, Hà Nội, Đà Lạt, Hạ Long… Những bài thơ anh viết về những vùng đất mà anh từng đến đều gợi mở trong chúng ta những giai thoại văn chương, lịch sử. Có lẽ, Huế là nơi cho anh cảm xúc thơ nhiều nhất. Nếu chúng tôi nhớ không lầm, Trần Ngọc Hưởng đã viết đến 5 bài thơ về Huế. Ngày xưa, Nguyễn Bính viết về mùa mưa xứ Huế. Mưa da diết, mưa dầm dề, đầy cô đơn và nghèo khổ. Ngày nay, Trần Ngọc Hưởng cũng viết về mưa Huế. Có thể nói, mưa Huế trong thơ của Trần Ngọc Hưởng đầy thơ mộng, tạo cho chúng ta một nỗi buồn man mác khi trải qua bể dâu của cuộc đời:

“Mưa đan chéo mặt sân rồng
Mờ mờ dáng chín đỉnh đồng Huế thơ
Gió day dứt tiếng chuông chùa
Em về nón mỏng chiều mưa nghiêng buồn

Nhòa dần mái cổ chon von
Tim trong ngực mệt đập mòn nhịp xưa
Hoàng thành đứng rũ trong mưa
Đằm đằm tóc trắng tượng thưa ôm đầu

Lá vèo trước cổng vào thu
Quanh đây lãng đãng sương mù nghìn năm
Mưa trời tiếng vọng âm âm
Một tôi tâm thức đôi phần quạnh hiu

Chia xa hồn tiếc thương nhiều
Mưa bong bóng vỡ bóng chiều nhặt hơn
Huế xa vời! Huế mù sương!
Huế lay phay hạt mưa vương tóc người…”

Trần Ngọc Hưởng sinh năm 1951 tại Gò Công, quê hương của miền gái đẹp. Và, nơi đây đã ghi đậm những chiến công hào hùng của người anh hùng Trương Công Định, thủ lĩnh nghĩa quân chống Pháp xâm lược trong thế kỷ 19. Hiện nay, anh định cư ở Tân An, Long An và dạy học tại trường Cao đẳng Sư phạm Long An.

Gần 60 tuổi đời, đến nay, Trần Ngọc Hưởng đã có hơn 40 năm gắn bó với thơ ca. Đến năm 2007, Trần Ngọc Hưởng đã xuất bản được 8 tập thơ, gồm: Bẻ lá che hường, Vườn xưa, Tay phấn, Thơ tuổi 40, Cuống rún chia lìa, Suối nguồn xanh, Chân dung thơ, Từ chín dòng sông vọng cổ. Có những thi phẩm tái bản đến lần thứ hai như Bẻ lá che hường, Tay phấn, Chân dung thơ.Điều này chứng tỏ thơ Trần ngọc Hưởng đã khẳng định vị trí trong lòng người yêu thơ.

Thơ của Trần Ngọc Hưởng giản dị, chân thực, tràn đầy tình cảm,đậm đà hương sắc miền châu thổ Cửu long Giang.Ý thơ sâu sắc.Thơ anh có độ rung lớn,làm lay động tâm hồn người đọc. Kế bước những nhà thơ: Kiên Giang – Hà Huy Hà, Trần Tuấn Kiệt… qua thơ, Trần Ngọc Hưởng làm đẹp thêm đất nước, con người miền Nam thân yêu.

Lê Ngọc Trác

Tài liệu tham khảo & trích dẫn:

– Thơ tuổi 40 (Trần Ngọc Hưởng)

– Từ chín dòng sông vọng cổ (Trần Ngọc Hưởng)

Phụ lục:

Sen đồng – Thơ Trần Ngọc Hưởng

Tay ôm đoá sen đồng
Từ tanh hôi vươn dậy
Hương đất trời sạch trong
Thơm lòng ta biết mấy!

Miền Tây ơi! Miền Tây
Đất này đâu chẳng có
Trắng hồng trong gió say
Mùi sen lừng hoa cỏ

Các em gái Miền Tây
Cũng là sen đồng nội
Sao trôi giạt đó đây
Chìm sâu trong mảng tối?

Dày dạn khắp xứ người
Bẹo hình hài nuôi miệng
Còn gì đoá sen tươi
Một đời ta quyến luyến

Nhân ngàn phiên bản đen
Chết điếng hồn quán sá!
Một trò chơi nhục hèn
Mua vui trăm khách lạ

Tinh khiết cũ tìm đâu
Hoá trong bùn một kiếp
Những còng vó lấm đầu
Dãi dầm nào ai biết?…

Tay ôm đoá sen đồng…

home page blog

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: